Không ít người thường nhầm cây lá đắng là cây rau đắng. Cùng loại cây có vị đắng nhưng cây rau đắng phổ biến ở vùng đồng bằng còn cây lá đắng là một loại rau ăn của người vùng cao. Rau đắng đã được coi là “đắng lắm” nhưng nếu cùng thưởng thức với lá đắng ắt hẳn sẽ có nhận xét “Sao có loại rau gì mà đắng quá vậy!”. Lá đắng là như vậy, nhưng đắng mà ngọt, ai ăn quen sẽ thấy cơ thể như giải nhiệt khi ăn món rau này thường xuyên. Lá đắng bóng, có hình riềm lưỡi cưa, mọc hoang trong núi, hiện được trồng cả trong vườn nhà, có thể dùng lá khi còn tươi hoặc phơi khô để dùng dần. Đây là loại thực phẩm ưa thích của người dân vùng sơn cước.
Lá đắng như chính tên gọi, có vị đắng đặc trưng nên có nơi còn gọi là lá mật vịt. Cây đắng vốn là một loại cây rừng, thường mọc ở khe núi, ven rừng. Khi trở thành một thứ rau ngon, người dân một số địa phương vùng núi, vùng bán sơn địa đã đưa về trồng trên nương rẫy hay ở vườn nhà. Cây lá đắng phát triển mạnh nhất trong mùa mưa và giữa được gốc qua các mùa đông rét, xuân sang cây lá phát triển nhanh và gân như cho lá xanh tốt quanh năm. Theo kinh nghiệm của người dân bản địa, những lá mỏng, non có răng cưa sẽ đem lại vị đắng đậm hơn là những lá già đã có màu thẫm lục, chính vì vậy mà người mới ăn lần đầu nên nếm thử vị đắng của lá già.
Người Tày vùng Na Hang, Tuyên Quang nấu thứ lá đắng này với rượu trắng, dùng như món khai vị rất tốt, giải rượu. Người Thanh Hóa nấu cùng mẻ, sả, nghệ và mắm tôm. Có thể nấu lá đắng với thịt lợn băm nhỏ, nấu canh với tiết lợn. Lá đắng tươi, khô đều dùng nấu như mọi thứ canh rau khác.
Một điều đặc biệt là lá đắng không chỉ ăn tươi, mà còn có thể đem phơi khô, bảo quản cho khỏi mốc, ẩm để đến lúc nào cần dùng thì đem rửa sạch rồi nấu như mọi thứ canh rau khác. Đó không chỉ là thứ rau dùng chế biến món ăn lạ miệng, mà còn được xem như một loại thảo dược có tác dụng chưa bệnh đường ruột, chống đầy hơi, tiêu mỡ và giải rượu.